Thông tư 08 bắt đầu hiệu lực đưa 20% tiền gửi Kho bạc có kỳ hạn vào LDR, nhóm Big 4 hưởng lợi
Thông tư 08 có hiệu lực từ 15/5 cho phép tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số LDR, tạo thêm dư địa tín dụng tại các ngân hàng quốc doanh.
Thông tư 08 có hiệu lực từ 15/5, 20% tiền gửi có kỳ hạn quay lại mẫu số LDR
Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 08/2026/TT-NHNN ngày 15/5/2026, sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư 22/2019/TT-NHNN liên quan đến các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Trọng tâm của văn bản này là việc điều chỉnh cách xác định tổng tiền gửi khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Theo quy định mới, tiền gửi của các tổ chức trong và ngoài nước (bao gồm cả tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác) tiếp tục phải loại trừ một số khoản mục trước khi đưa vào mẫu số LDR. Các khoản mục bị loại trừ bao gồm: tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng , tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước và 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
Như vậy, Thông tư 08 chính thức cho phép các ngân hàng thương mại tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức LDR. Phần tiền gửi không kỳ hạn của cơ quan này tiếp tục không được ghi nhận. Việc phân định cơ cấu kỳ hạn là yếu tố nền tảng, do quy định mới không áp dụng đối với toàn bộ hệ thống tiền gửi Kho bạc.
Động thái này đánh dấu sự điều chỉnh cơ chế so với lộ trình thắt chặt trước đó tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN. Trước đây, tỷ lệ khấu trừ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khỏi mẫu số LDR được quy định tăng dần: từ 50% (năm 2023), 60% (năm 2024), 80% (năm 2025) và lên mức 100% kể từ ngày 1/1/2026. Tính đến đầu năm 2026, toàn bộ dòng tiền này đã hoàn toàn nằm ngoài công thức xác định LDR.
Về mặt kỹ thuật, LDR bằng tổng dư nợ cho vay chia cho tổng tiền gửi được phép tính. Giả định dư nợ cho vay không đổi, sự gia tăng ở mẫu số sẽ trực tiếp làm giảm tỷ lệ LDR. Cụ thể, một ngân hàng có 1.000.000 tỷ đồng tổng tiền gửi hợp lệ và 840.000 tỷ đồng dư nợ, tỷ lệ LDR tương ứng là 84%. Khi tiếp nhận thêm 100.000 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, phần được phép tính vào mẫu số (20%) là 20.000 tỷ đồng. Tổng tiền gửi bấy giờ đạt 1.020.000 tỷ đồng, kéo LDR giảm cơ học xuống mức 82,35%.
Căn cứ trên mức trần LDR 85% theo quy định, sự gia tăng 20.000 tỷ đồng ở mẫu số tạo ra khoảng 17.000 tỷ đồng dư địa cho vay trên lý thuyết. Tuy nhiên, giới hạn tín dụng thực tế còn phụ thuộc chặt chẽ vào hạn mức tăng trưởng (room tín dụng) do Ngân hàng Nhà nước cấp, chất lượng tài sản, cơ cấu nguồn vốn, trạng thái thanh khoản và các chỉ tiêu an toàn hoạt động nội bộ của từng tổ chức.
Hơn 563.000 tỷ đồng tiền Kho bạc tại Vietcombank, BIDV và VietinBank
Số liệu từ báo cáo tài chính quý I/2026 cho thấy số dư tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại Vietcombank, BIDV và VietinBank đạt 563.036 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng gần 39% so với thời điểm cuối năm 2025. Quy mô nguồn vốn này khẳng định tác động của Thông tư 08 mang tính cục bộ, chủ yếu hỗ trợ nhóm ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thay vì tác động đồng pha lên toàn hệ thống.
Tại Vietcombank, tổng tiền gửi Kho bạc Nhà nước cuối quý I/2026 đạt 189.159 tỷ đồng (tăng 39% so với đầu năm). Chi tiết cơ cấu cho thấy tiền gửi không kỳ hạn bằng VND và ngoại tệ lần lượt là 2.656 tỷ đồng và 1.252 tỷ đồng; trong khi tiền gửi có kỳ hạn bằng VND lên tới 185.250 tỷ đồng. Căn cứ tỷ lệ 20% theo Thông tư 08, quy mô tiền gửi có kỳ hạn được ghi nhận vào mẫu số LDR của Vietcombank xấp xỉ 37.050 tỷ đồng.
Tương tự, BIDV ghi nhận số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước xấp xỉ 188.627 tỷ đồng (tăng 39%). Trừ đi khoản tiền gửi không kỳ hạn 3.377 tỷ đồng, quy mô tiền gửi có kỳ hạn cũng duy trì ở mức 185.250 tỷ đồng. Tương ứng, giá trị bổ sung vào mẫu số LDR của BIDV đạt 37.050 tỷ đồng.
Với VietinBank, quy mô tiền gửi Kho bạc Nhà nước cuối quý I/2026 đạt khoảng 185.250 tỷ đồng (tăng gần 38%). Dữ liệu công bố hiện chưa tách bạch chi tiết cơ cấu kỳ hạn của khoản mục này. Do đó, mức độ tác động lên hệ số LDR của VietinBank sẽ phụ thuộc trực tiếp vào tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn trong tổng số dư hiện hữu.
Với giả định áp dụng mức trần LDR 85%, phần mẫu số tăng thêm (37.050 tỷ đồng) tại Vietcombank và BIDV cung cấp dư địa cho vay lý thuyết tương đương 31.493 tỷ đồng cho mỗi ngân hàng. Con số này tái khẳng định lợi thế thanh khoản đặc thù của nhóm ngân hàng quốc doanh khi đóng vai trò là các kênh dẫn truyền vốn chính phủ.
Dư địa kỹ thuật tăng, lợi nhuận có thể chưa phản ánh ngay
Thông tư 08 chỉ kích hoạt 20% tiền gửi có kỳ hạn, do đó không đưa toàn bộ lượng vốn 563.036 tỷ đồng trở lại mẫu số. Vai trò trọng tâm của chính sách này dừng ở mức nới lỏng giới hạn kỹ thuật đối với hệ số LDR, đặc biệt hữu ích với các tổ chức tín dụng có tỷ trọng tiền gửi Kho bạc lớn.
Theo ước tính của SSI Research, chính sách này chỉ gia tăng sức chứa tín dụng xấp xỉ 0,6% ở cấp độ toàn ngành. Mặc dù vậy, đối với nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh, mức độ hỗ trợ có thể dao động từ 1,4% đến 2% tổng dư nợ. Sự chênh lệch này giải thích nguyên nhân các ngân hàng gốc Nhà nước hưởng lợi biên lớn hơn hẳn so với khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân.
Sự điều chỉnh cơ chế LDR diễn ra trong bối cảnh chênh lệch tăng trưởng tín dụng và huy động đang nới rộng. Dữ liệu từ GTJAS cho thấy, trong quý I/2026, dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết tăng 3,58%, áp đảo mức tăng huy động vốn 0,6%. Trạng thái lệch pha này gia tăng áp lực lên thanh khoản hệ thống, chi phí vốn (COF) và biên lãi thuần (NIM), bất chấp lợi nhuận trước thuế toàn ngành vẫn duy trì mức tăng 14% so với cùng kỳ.
Thống kê theo dõi của SSI Research cũng chỉ ra tỷ lệ LDR tại nhiều tổ chức tín dụng đã vượt mốc 100%. Tính đến hết quý I/2026, tăng trưởng huy động toàn hệ thống đạt mức thấp 1,5%, trong đó tiền gửi khách hàng chỉ nhích nhẹ 0,2%. Phân lớp dữ liệu cho thấy nhóm ngân hàng Nhà nước sụt giảm 0,7% huy động, trong khi nhóm cổ phần tư nhân tăng 1,3%. Hệ quả là mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường từng có thời điểm chạm mốc 9 - 9,5%, phản ánh sự cạnh tranh khốc liệt về nguồn vốn đầu vào.
Bức tranh nguồn vốn tại ba ngân hàng quốc doanh niêm yết cũng thể hiện sự phân hóa. Vietcombank ghi nhận độ chênh lệch (gap) lớn nhất lên tới 9,01 điểm phần trăm (tín dụng tăng 20,47%, tiền gửi tăng 11,46%). BIDV có mức chênh lệch 7,36 điểm phần trăm (tín dụng tăng 15,66%, tiền gửi tăng 8,30%). Trong khi đó, VietinBank duy trì trạng thái tương đối cân bằng với khoảng cách chỉ 0,64 điểm phần trăm (tín dụng tăng 13,16%, tiền gửi tăng 12,52%).
Thông tư 08 chủ yếu tháo gỡ rào cản về dư địa kỹ thuật và củng cố bộ đệm thanh khoản. Việc hạch toán 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước không tự động kéo giảm chi phí vốn hay thúc đẩy thu nhập lãi thuần ngay trong kỳ kế toán. Cải thiện thực tế về hiệu suất sinh lời sẽ được quyết định bởi hạn mức tín dụng được giao, sức hấp thụ vốn của nền kinh tế và năng lực tối ưu hóa bảng cân đối tài sản của từng ngân hàng trong giai đoạn tới.
Theo Kiến thức đầu tư




